Liên kết website

Trích nộp kinh phí công đoàn 2% phải được xem như khế ước xã hội

Một trong 9 vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự thảo Luật Công đoàn (sửa đổi) do Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Đặng Ngọc Tùng trình bày tại phiên họp QH chiều 4.11 là việc thu kinh phí CĐ (bằng 2% quỹ lương DN thực trả cho NLĐ) và quy định tài chính của CĐ.

TS Trần Văn - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, Đại biểu QH đoàn Cà Mau - đã trả lời phỏng vấn của PV Báo Lao Động xung quanh vấn đề này.

Thưa ông, là một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính - ngân sách, xin ông cho biết quan điểm về vấn đề tài chính CĐ và nguồn kinh phí để đảm bảo cho CĐ hoạt động?

- Cơ chế tài chính đảm bảo cho hoạt động của tổ chức CĐ có ý nghĩa rất quan trọng, trong đó nguồn thu “kinh phí CĐ do cơ quan, tổ chức, đơn vị, DN đóng bằng 2% tổng quỹ tiền lương thực trả cho NLĐ ” được quy định tại Điều 26 dự thảo Luật CĐ (sửa đổi) sẽ tạo điều kiện để tổ chức CĐ thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ.

Cơ chế này đã được luật hóa từ rất sớm. Ngay tại Sắc lệnh số 108-SL/L10 ngày 5.11.1957 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban bố Luật CĐ đã quy định rõ tại Điều 21, khoản c: “Tiền trích hằng tháng trong quỹ của xí nghiệp nhà nước, cơ quan, trường học, chủ xí nghiệp tư bản tư doanh dành cho CĐ bằng một tỉ lệ nhất định của tổng số lương cấp phát cho toàn

thể CNVC”. Cụ thể hóa Luật CĐ năm 1957, Nghị định số 188-TTg ngày 9.4.1958 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật CĐ năm 1957 đã quy định rõ tại Điều 19: “Để góp vào quỹ CĐ, giám đốc xí nghiệp nhà nước, thủ trưởng cơ quan, trường học, chủ xí nghiệp tư bản tư doanh, hiệu trưởng trường tư thục, hằng tháng nộp cho quỹ CĐ thuộc tài khoản của Tổng LĐLĐVN ở Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, một số tiền gọi là kinh phí CĐ bằng hai phần trăm (2%) tổng số tiền lương cấp phát trong tháng cho toàn thể CNVC, không phân biệt trong hay ngoài biên chế”.

Gần đây nhất, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28.1.2008 của Hội nghị BCHTƯ Đảng khóa X “Về tiếp tục xây dựng GCCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” đã nêu rõ: “Việc thu kinh phí CĐ tại DN thuộc các thành phần kinh tế thực hiện theo quy định của Luật CĐ và của Chính phủ; sử dụng cho việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, sinh hoạt văn hóa, thi đua, khen thưởng, phúc lợi xã hội và các hoạt động khác của công nhân tại chính DN đó, kể cả việc trả lương hoặc phụ cấp lương cho cán bộ CĐ tại DN”.

Như vậy, qua các quy định của pháp luật và nghị quyết của Đảng đã trích dẫn ở trên, chúng ta có thể thấy quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước về nguồn kinh phí 2% do NSDLĐ có trách nhiệm trích nộp cho quỹ CĐ.

Có ý kiến cho rằng, do DN trích nộp kinh phí CĐ nên đã làm tăng giá thành sản phẩm, làm giảm tính cạnh tranh của DN. Ý kiến của ông về vấn đề này?

- Chúng ta cần phải khẳng định là: Việc DN, NSDLĐ trích nộp kinh phí 2% cho hoạt động của tổ chức CĐ có thể xem như một khế ước xã hội về cộng đồng trách nhiệm giữa NSDLĐ và tổ chức đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ là CĐ.

Theo thông tư số 39/TT-LB, ngày 6.5.1988 của Tổng CĐ và Bộ Tài chính, “khoản tiền trích nộp kinh phí CĐ của các đơn vị SXKD được hạch toán vào giá thành sản phẩm hoặc phí lưu thông (hạch toán vào khoản chi phí quản lý xí nghiệp đối với đơn vị sản xuất, hoặc khoản chi phí quản lý hành chính đối với đơn vị lưu thông). Các đơn vị hành chính, sự nghiệp thì do ngân sách cấp phát trong dự toán được duyệt và hạch toán vào mục 70 “Phúc lợi tập thể” của mục lục ngân sách nhà nước hiện hành”.

Tuy có ý kiến cho rằng, do DN trích nộp kinh phí CĐ nên làm tăng giá thành sản phẩm, làm giảm tính cạnh tranh của DN, nhưng trên thực tế, kinh phí trích nộp cho CĐ chỉ chiếm từ 0,14% đến 0,2% giá thành sản phẩm, đối với DN làm hàng gia công thì kinh phí CĐ cũng chỉ chiếm không quá 0,4% giá thành sản phẩm.

Như vậy, có thể nói việc trích nộp kinh phí CĐ không làm tăng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Mặt khác, để tổ chức CĐ mạnh, cộng với nguồn kinh phí đảm bảo sẽ tạo điều kiện để tổ chức CĐ thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ thông qua thương lượng và ký kết TƯLĐTT trong DN; tuyên truyền giáo dục NLĐ học tập nâng cao trình độ chính trị, trình độ văn hóa, tay nghề; tập huấn cho NLĐ hiểu biết pháp luật lao động, ý thức tổ chức kỷ luật để thực hiện tốt hơn nội quy lao động, đặc biệt là tổ chức tốt phong trào thi đua lao động sản xuất, góp phần tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của DN, góp phần thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại DN, giảm thiểu tranh chấp lao động, ngăn ngừa đình công không theo đúng các quy định của pháp luật, nhằm đưa DN ngày càng phát triển bền vững.

Hiện nay, theo quy định của Tổng LĐLĐVN, 60% kinh phí CĐ được để lại cho CĐCS sử dụng để chăm lo cho NLĐ và tổ chức các hoạt động CĐ tại cơ sở. Chỉ có 40% kinh phí CĐ được nộp lên CĐ cấp trên cơ sở và phần lớn trong số đó được sử dụng để phục vụ trở lại NLĐ tại DN như chi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ CĐCS, chi hỗ trợ, mua vé tàu xe cho NLĐ sống xa quê hương, có hoàn cảnh khó khăn được về quê trong dịp tết cổ truyền dân tộc, trợ cấp thăm hỏi cho NLĐ khi ốm đau, tai nạn lao động...

Từ những phân tích nêu trên, tôi hoàn toàn ủng hộ nội dung dự thảo Luật CĐ (sửa đổi) về các nguồn kinh phí đảm bảo cho hoạt động của tổ chức CĐ Việt Nam.

Xin cảm ơn ông.

NT – (Nguồn: Laodong.com.vn)