Liên kết website

Chính sách đối với lao động nữ, vì sao còn nhiều bất cập?

 Vừa qua, Liên đoàn lao động tỉnh vừa tổ chức hội nghị đánh giá kết quả 2 năm thực hiện đề án chính sách đối với lao động nữ (2009-2010). Nhiều ý kiến tham luận tại hội nghị về kết quả đạt được cũng như những bất cập trong quá trình thực hiện đề án.

Nữ CNVC-LĐ Thanh Hoá là lực lượng lao động xã hội đông đảo có mặt trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, tham gia tích cực vào quá trình đổi mới quê hương đất nước. Những năm qua cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tuy có sự biến động, chuyển dịch cơ cấu lao động, nhưng lực lượng lao động nữ vẫn có xu hướng gia tăng (chiếm 51% trong CNVC-LĐ, 70-80% khối sản xuất kinh doanh. Hiện nay lao động nữ có 95.365/187.000 CNVC-LĐ. Đây là lực lượng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội nếu được quan tâm đúng mức và tạo điều kiện cho chị em cống hiến. Bộ luật lao động ngoài một số quy định chung, đã dành riêng chương 10 quy đinh chế dộ đối với lao động nữ. Thực tế những năm qua, nhiều chế độ chính sách đối với lao động nữ ở Thanh Hoá đã được thực hiện, góp phần từng nâng cao nhận thức về pháp luật lao động của CBCNVC-LĐ và người sử dụng lao động đối với lao động nữ. Tuy nhiên, tại nhiều đơn vị, quyền lợi của người lao động nữ vẫn chưa được thực hiện nghiêm, túc đúng quy định. Thể hiện giữa chính sách và thực tế còn nhiều bất cập. Người sử dụng lao động còn có nhiều vi phạm như không ký hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, chưa thực hiện đúng các quy định về VSATLĐ, điều kiện môi trường lao động, thời giờ việc làm, thời giờ nghỉ ngơi, chậm trả lương, nợ BHXH-BHYT, không thực hiện đúng chính sách cho lao động nữ mang thai, nghỉ đẻ, nuôi con…nên đã xảy ra một số vụ tranh chấp lao động, đình công, ngừng việc tập thể, ngộ độc thức ăn trong thời gian qua. Trước thực trạng trên, BTVLĐLĐ tỉnh đã xây dựng và triển khai đề án “Điều tra, khảo sát về việc làm, đời sống và thực hiện chế độ chính sách đối với lao động nữ”. Mục tiêu của đề án: Thông qua kiểm tra, giám sát việc đúng, sai tại các doanh nghiệp, cơ quan đơn vị trong việc thực hiện chính sách đối với lao động nữ, từ đó có những kiến nghị, đề xuất, điều chỉnh trong việc thực hiện các chính sách của nhà nước đối với lao động nữ, góp phần nâng cao đời sống, việc làm, tạo cơ hội cho chị em phấn đấu vươn lên, có nhiều đóng góp cho xã hội.

alt

Qua 2 năm thực hiện đề án, thấy rằng: nhiều doanh nghiệp đã “bỏ quên” những quy định hiện hành của Luật lao động và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Chính phủ, Bộ, Ngành liên quan đối với lao động nữ như: Chính sách về việc làm, tuyển dụng lao động, hợp đồng lao động, chế độ thai sản, trợ cấp nuôi con…Một số doanh nghiệp còn đưa ra thoả thuận riêng đối với lao động nữ (goài hợp đồng): Quy định không được kết hôn hoặc sinh con trước 2 hoặc 3 năm làm việc tại doanh nghiệp nhiều doanh nghiệp yêu cầu lao động nữ làm thêm giờ, nhưng không được hưởng chế độ làm thêm giờ theo quy định. Trong việc thực chính sách tiền lương, tiền công, BHXH: Hầu hêt các doanh nghiệp khảo sát chưa xây dựng được thang bảng lương, không có định mức, đơn giá theo sản phẩm, mức thu nhập bình quân của lao động nữ bao gồm tiền lương tối thiểu, cộng với thu nhập làm thêm giờ, khoán sản phẩm, thu nhập khác nhìn chung thấp so với mặt bằng giá cả khu vực, không đồng đều giữa các loại hình doanh nghiệp. Mức thu nhập của giáo viên Mầm non quá thấp, từ 500 ngàn đồng – 1.4 triệu đồng/tháng. Điều đó không tương xứng với cường độ lao động của họ bỏ ra. Có trường hợp giáo viên Mầm non hợp đồng được bổ nhiệm giữ chức vụ Hiệu trưởng hoặc Hiệu Phó nhưng không được hưởng chức vụ theo quy định như ở Bá Thước…Về vấn đề nhà ở: Hầu hết các doanh nghiệp chưa có nhà ở cho CBCNC-LĐ nên đa số lao động nữ ở các khu công nghiệp đều tự thuê nhà trọ. Tình trạng giá thuê nhà trọ quá cao so với mức thu nhập. Để tiết kiệm chi tiêu, người lao động phải thuê những căn phòng chật chội, thiếu ánh sang, thiếu nước sạch, điều kiện an ninh, trật tự không đảm bảo, trong khi đó thời giờ làm việc kéo dài, các phương tiện đáp ứng nhu cầu tinh thần, vật chất không có, nên lao động nữ ít có điều kiện tiếp cận thông tin, kiến thức văn hoá, xã hội và giao lưu…Đã có hiện tượng nam, nữ công nhân thuê nhà sống chung tiền hôn nhân, có trường hợp chị em nạo hút thai nhiều lần, ảnh hưởng tới sức khoẻ, chất lượng DS-SKSS…Từ thực tế 2 năm thực hiện đề án, một số đề xuất, kiến nghị được LĐLĐ tỉnh nêu ra: Chính sách lao động nữ được quy định trong Luật lao động, Luật BHXH có khá nhiều ưu tiên nhưng nhiều quy định đang bị vi phạm. Thậm chí có những chính sách không thể thực hiện được, không phù hợp với cơ chế mới như: Đào tạo nghề dự phòng, hỗ trợ cho lao động nữ sinh con và nuôi con nhỏ, thời gian nghỉ cho con bú, nhà tắm, nhà ở, nơi sinh hoạt văn hoá, nhà trẻ, mẫu giáo…Nguyên nhân của những bất cập trên là nhiều cơ quan, doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc Luật lao động, nhất là chính sách đối với lao động nữ. Bên cạnh đó, giữa các văn bản hướng dẫn dưới Luật và Luật có mục chưa thống nhất chính sách chưa đồng bộ, văn bản hướng dẫn cấp trên quá nhiều thậm chí chồng chéo giữa các ngành, các cấp. LĐLĐ tỉnh đề nghị với Tổng Liên đoàn tham gia với nhà nước hoàn thiện các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, rà soát những quy định, chương, điều không còn phù hợp, không thực thi để lược br, bổ sung, sửa đổi. Đồng thời đề nghị với UBND tỉnh khi phê duyệt các dự án đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp cần có chính sách giải quyết các điều kiện về hạ tầng xã hội thiết yếu: Nhà ở, nhà trẻ, trường học, nơi sinh hoạt văn hoá, thể thao, giúp chị em có cơ hội học tập vươn lên. Đối với giáo viên Mầm non, đây là một bậc học trong hệ thống giáo dục nên tỉnh cần đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo điều kiện dạy và học. Đặc biệt là việc tuyển dụng vào biên chế,đảm bảo sự công bằng như giáo viên các ngành học, bậc học trong tỉnh. Đối với những doanh nghiệp vi phạm chính sách đối với lao động nữ cần có chế tài xử phạt nghiêm minh…

Bài và ảnh : Thuý Hoà